743 lượt xem

Triệu chứng, nguyên nhân và cách phòng chống bệnh thủy đậu ở trẻ

Thủy đậu là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở mọi lứa tuổi do virus Varicella Zoster gây ra và thường bùng phát thành dịch. Bệnh thủy đậu nếu không được chăm sóc chữa trị đúng cách có thể gây ra biến chứng nguy hiểm.

Bệnh thủy đậu ở trẻ nhỏ
Bệnh thủy đậu ở trẻ nhỏ

Bệnh thủy đậu có lây nhiễm không?

Bệnh thủy đậu rất dễ lây truyền do một loại siêu vi mang tên Varicella Zoster gây nên. Virus gây bệnh thủy đậu lây chủ yếu qua đường hô hấp (hoặc không khí), người lành dễ bị nhiễm bệnh nếu hít phải những giọt nước bọt bắn ra khi bệnh nhân thủy đậu ho, hắt hơi hoặc nhảy mũi… nhất là trẻ em.

Một số cách lây nhiễm khác có thể xảy ra nếu chúng ta không cẩn thận khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu như : bệnh có thể lây khi tiếp xúc da với những nốt bóng nước vỡ ra, lấy từ vùng da bị tổn thương hoặc lở loét từ người mắc bệnh. Phụ nữ có thai cần hạn chế tiếp xúc với người bệnh để tránh bị lây nhiễm gây ảnh hưởng tới thai nhi.

Những triệu chứng của bệnh thủy đậu

Dấu hiệu đầu tiên dễ nhận thấy của bệnh thủy đậu là sốt, đau đầu, đau cơ. Có một số trường hợp bệnh thủy đậu ở trẻ em không có triệu chứng rõ rệt…

Bệnh trở nặng khi trên cơ thể người bệnh bắt đầu xuất hiện rõ những “nốt rạ” . Các nốt tròn này thường xuất hiện nhanh trong vòng từ 12 – 24 giờ và tiến triển thành những mụn nước, bóng nước sau khi người bệnh có những biểu hiện ban đầu của bệnh. 

Các nốt rạ có thể mọc ở khắp các vị trí trên toàn thân với số lượng từ 100 – 500 nốt gây cảm giác ngứa ngáy khó chịu cho người bệnh. Bệnh sẽ tự khỏi sau 4 đến 5 ngày nếu được điều trị và kiêng cữ đúng cách, các nốt rạ sẽ khô đi trở thành vảy. Thời gian sẽ kéo dài  hơn từ 5 đến 10 ngày đối với thủy đậu ở trẻ nhỏ.

Biến chứng của bệnh thủy đậu

Bệnh thủy đậu là một bệnh lành tính nhưng nếu không được điều trị kiêng cữ đúng cách, bệnh cũng có thể gây ra một số biến chứng nguy hiểm như : Viêm màng não, xuất huyết, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nốt rạ… Trong một số trường hợp bệnh có thể gây tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời. Phụ nữ có thai mắc bệnh thủy đậu có tỷ lệ cao sinh con bị dị tật bẩm sinh.

Chứng viêm phổi do thủy đậu, ít khi xảy ra hơn, nhưng rất nặng và rất khó trị. Chứng viêm não do thủy đậu cũng vẫn xảy ra, không hiếm: sau thủy đậu trẻ bỗng trở nên vật vã, quờ quạng chân tay, nhiều khi kèm theo co giật (làm kinh), hôn mê. Những trường hợp này có thể gây chết người nhanh chóng, và một số trẻ tuy qua khỏi được vẫn mang di chứng thần kinh lâu dài: bị điếc, bị khờ, bị động kinh v.v…

Cần làm gì khi trẻ bị thủy đậu?

Vì thủy đậu là căn bệnh rất dễ lây lan nên khi trẻ mắc thủy đậu các bậc cha mẹ nên cách ly trẻ tại nhà cho tới khi khỏi hẳn. lựa chọn quần áo vải mềm, thấm hút mồ và đặc biệt chú ý đảm bảo vệ sinh da cho trẻ để tránh xảy ra biến chứng. 

Vệ sinh phòng ở của người bệnh: Lau sàn phòng, bàn ghế, tủ giường, đồ chơi của người bệnh hàng ngày bằng nước Javel, hoặc dung dịch Cloramin B, sau đó rửa lại bằng nước sạch. Đối với những đồ vật nhỏ có thể đem phơi nắng.

Khi cần tiếp xúc người bệnh thủy đậu thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh.

Cần làm gì khi trẻ bị thủy đậu?
Cần làm gì khi trẻ bị thủy đậu?

Một số lưu ý cha mẹ cần nhớ để tránh cho trẻ mắc thủy đậu bị bội nhiễm có thể lại sẹo lâu dài :

  • Nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7 đến 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát ban) cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn 
  • Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, ly, chén, muỗng, đũa.
  • Vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 90/00.
  • Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm trong phòng tắm.
  • Nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng.
  • Nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước.
  • Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả.
  • Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ.
  • Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng: nốt rạ có mủ, tấy đỏ vùng da xung quanh… Tuyệt đối không được dùng thuốc Aspirin để hạ sốt.
  • Nếu bệnh nhân cảm thấy: Khó chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị.

Bệnh thủy đậu tuy là một bệnh lành tính nhưng nếu không được phát hiện và và điều trị đúng cách sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm phổi viêm não và màng não. Do đó, các bậc phụ huynh cần căn cứ vào các triệu chứng của con em mình để phát hiện và điều trị bệnh kịp thời. Hiện tại đã có biện pháp chủ động để phòng ngừa bệnh thủy đậu, đó là chủng ngừa bằng vắc-xin.

Cách phòng chống bệnh thủy đậu ở trẻ em

Hiện nay đã có biện pháp chủ động để phòng chống bệnh thủy đậu ở trẻ em, đó là chủng ngừa bằng tiêm Vắc- xin. Đối với trẻ từ 12 tháng đến 12 tuổi, liều thứ 2 tiêm cách liều thứ nhất từ 6 tuần trở đi hoặc trong khoảng 4 – 6 tuổi để gia tăng hiệu quả phòng bệnh và giảm tỷ lệ tái phát trở lại.

Theo Trung tâm Y tế Dự phòng Đà Nẵng, lịch tiêm vắc xin phòng bệnh thủy đậu cụ thể như sau:

  • Tiêm mũi 1 cho mọi đối tượng từ 12 tháng tuổi trở lên.
  • Tiêm mũi 2 nhắc lại cách mũi 1 thời gian là 6 tuần trở đi (không được tiêm 2 mũi cách nhau 4 tuần).

Lưu ý:

  • Không tiêm vắc xin thuỷ đậu cho phụ nữ đang mang thai.
  • Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 đến 49 tuổi) nên tiêm vắc xin thủy đậu trước khi mang thai 3 tháng.

Nguồn : Báo sức khỏe đời sống – Cao đẳng Y Dược Hà Nội